THẦY 

🪷 THẦY 🪷

Thầy chính là vị Thầy Ân sư của tụi mình, người mà chín năm trước, đã theo một nhân duyên đặc biệt, lặn lội về từ phương xa, và hữu duyên chúng mình được gặp. Và giữa hàng trăm người hữu duyên được gặp Thầy lần đó Thầy về Việt Nam, nhóm bọn nhỏ chúng mình đã đủ duyên được Thầy trao truyền một số món quà quý giá, mà chúng mình trân trọng ‘đội lên đầu’, thượng vào góc thiêng liêng nhất, trong trái tim. Trong đó, có pháp Phật, với Chú Lăng Nghiêm, Kinh Hoa Nghiêm, với niềm kính trọng và niềm tin vô điều kiện với Hoà thượng Tuyên Hóa Thượng Nhân; với thiền Nhĩ Căn Viên Thông, với rất nhiều những phương tiện từ lớn đến nhỏ mà Thầy truyền trao, để Thầy dùng những phương tiện đó mà đánh thức đám nhỏ ‘linh hồn già’ mà Thầy nhận ra, để tụi nó ‘thức dậy’ mà chịu quay về tu tập, về lại với căn cơ nguồn cội của chúng nó. Để rồi cũng chính những phương tiện thiện xảo Thầy truyền trao, đám nhỏ học trò Thầy đã dùng chúng để tiếp tục lan tỏa đến những người hữu duyên, ‘đánh thức’ họ dậy, qua đó mà họ tự ngẫm ngộ, tự soi chiếu chính mình, tự tu sửa, chuyển hoá thân tâm, từng bước giải thoát chính họ ra khỏi khổ đau, phiền não trần lao nghiệp chướng, và xa hơn nữa, hướng tới từng bước giải thoát chính họ ra khỏi sinh tử luân hồi, mà Về Nhà.

Thầy Ân Sư.

Nghe thì thấy công đức Thầy đã làm cho chúng mình, và thông qua chúng mình mà lan tỏa đến một cộng đồng sâu rộng, là vô cùng lớn; vậy nhưng, thuở sinh thời, Thầy chưa từng cho phép tụi mình nhắc đến tên Thầy hay đề cập bất kỳ một thông tin gì về Thầy. Bởi lẽ, Thầy nói, đời sống này vô thường, cái Thầy làm cũng là ‘thuận tay mà làm’, đâu có đáng sá gì, cho nên, Thầy sống trong lặng lẽ, ra đi trong âm thầm, như một làn gió lành thổi ngang cõi Dục giới này, vậy thôi. Sau này, có duyên tiếp cận Kinh Kim Cang, tụi mình mới nhận ra, cái tinh thần mà Thầy đã làm trong suốt chín năm chúng mình được phước hạnh theo học được một chút từ Thầy, chính là tinh thần Bồ tát đạo. “Bồ tát nguyện cứu vớt hết chúng sinh trong ba cõi sáu đường ra khỏi khổ đau, hướng đến giải thoát Niết bàn, nhưng không thấy có chúng sanh nào được giải thoát.” Thầy tụi mình đó. Làm được bao nhiêu thứ, mà cứ ung dung như không, khi sống cũng như khi đã qua đời, để rồi đọng lại sâu nhất trong lòng đám học trò chúng con, chính là nụ cười mỉm mỉm ‘cười như không cười’ của Thầy, cùng câu cửa miệng ‘bất hủ’: “Vậy sao.”

Khi tụi mình đủ duyên được dắt đến với Thầy, tụi mình còn là một đám những đứa nhỏ lăng quăng, tu học bữa đực bữa cái, kiến thức Phật pháp thì lõm bõm. Thầy đưa bảng chữ trong Kinh Hoa Nghiêm, bắt học, rồi lại đưa bảng Chú Lăng Nghiêm dài thấy sợ, bắt đọc rồi học thuộc đi. “Chú Lăng Nghiêm là vua của các chú, có thể “Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng” – Tiêu diệt vạn nghiệp tưởng điên đảo của ta trong vô lượng kiếp, đồng thời cũng giúp thế giới này duy trì sự ổn định và cân bằng”. Pháp Phật Thầy dạy thì cao siêu khó hiểu, các bản Chú Thầy đưa thì thật dài và đọc muốn trẹo miệng, đứa nào cũng trầy trật lên xuống. Thầy thấy tội nghiệp, ban cho thêm mấy món đồ chơi Thầy phát hiện được, coi tụi mình như con nít mà ‘dụ’ kẹo. Có điều, ‘kẹo’ từ Thầy nó cũng lạ lắm, nào là Nhân số học Pythagoras, là biểu đồ Giải tích Mandala từ Tarot cổ, là Kinh Dịch và Chu Dịch Mandala… Và hời ơi, những giá trị chính thức Thầy truyền trao là pháp Phật thì tiếp nhận khó khăn như vậy, mấy món đồ chơi Thầy tiện tay thả qua cho tự ngẫm “Ta là ai, Ta đến cuộc đời này để làm gì, Ta cần làm gì để đi suốt cuộc đời này một cách ý nghĩa nhất?” thì đám học trò nhà MayQ của Thầy lại tiếp nhận như miếng bọt xốp hút từng giọt, thấm nhuần. Và chỉ trong một thời gian ngắn ngẫm ngộ mấy món ‘đồ chơi’ Thầy đưa, tụi mình trực tiếp ‘tỉnh dậy’. Tập trung tu tập một cách hết lòng hết dạ, chuyển hoá một cách rốt ráo, và hơn thế nữa, còn kịp lan toả cho hàng chục ngàn người hữu duyên trong gần mười năm qua.

Cho đến một ngày, tụi mình phát hiện ra, Thầy sinh ngày 16/7/1957. Có rất nhiều sự sững sờ.

Sinh ngày 16/7/1957, có nghĩa là Thầy cũng là người Số 9 – một con số chỉ ‘linh hồn già’ dùng tri thức và năng lượng tâm để phụng sự cuộc sống. Bốn đỉnh cao của Thầy lần lượt là 5 (27 tuổi) – 2 (36 tuổi) – 7 (45 tuổi) – 11 (54 tuổi). Sinh thời, Thầy rất ít khi nào chịu nói bất kỳ thông tin gì về đời tư cá nhân của Thầy. Cho nên, ngày ngồi ở đám tang Thầy, nghe các Thầy đọc tóm tắt tiểu sử cuộc đời Thầy, mới thêm ngỡ ngàng: Cuộc đời Thầy ứng từng chút một với bốn đỉnh cao mà Thầy có!

Một người trẻ đi du học tại châu Âu, vào năm 27 tuổi bỗng có duyên để sang Mỹ để đoàn tụ với gia đình lớn, với người Mẹ thương yêu của Thầy ở đó. Năm đó (1985), chẳng phải là thời điểm Thầy chính thức đi vào đỉnh cao đầu tiên, mang tính chất của con số 5 – là ‘Thay đổi nhận thức hướng tâm linh’ sao? Bởi vì, chỉ khi sang Mỹ, Thầy mới có điều kiện để tiếp cận và phát huy tính chất hướng tâm linh vốn vẫn luôn tiềm tàng trong con người Thầy. Gia đình Thầy trước đó theo Công giáo, chỉ riêng cá nhân Thầy vẫn ẩn ẩn trong người một cảm giác kỳ lạ, rằng mình “chưa tìm về đúng Nhà của mình”. Thế là, vào khoảng năm 1992, trong một khoảnh khắc thao thức, Thầy đã nhìn lên bầu trời cao và khấn cầu: “Liệu có ai đó ở trên cao kia cho con biết, con thuộc về đâu không?” Cuối tuần ấy, Thầy đi ra thư viện công cộng ở địa phương, đến trước kệ sách về các trường phái tâm linh, và tự nguyện với mình rằng, sẽ nhắm mắt lại, rút đại một cuốn sách. Đó là cuốn sách gì, theo trường phái nào, Thầy sẽ đi theo trường phái đó. Và cuốn sách Thầy rút được là Pháp Bảo Đàn Kinh về Lục Tổ Huệ Năng, Tổ thứ Sáu của phái thiền Đốn Ngộ của Phật giáo. Tác giả của cuốn giảng về kinh ấy là Tuyên Hóa Thượng Nhân ở Vạn Phật Thánh Thành, chỉ cách nơi Thầy đang sống vài giờ lái xe. Thầy bèn tìm lên trên Vạn Phật Thành, chăm chú lắng nghe từng lời Hoà thượng Tuyên Hóa giảng giải, và làm công quả. Từ đó về sau, gần như hàng tuần, Thầy đã rủ Mẹ mình cùng lên nghe Hòa thượng giảng. Ráp lại, thời điểm đó Thầy đang đi đến đỉnh cao thứ hai mang tính chất của con số 2 – con số chỉ sự khởi phát tâm linh, yêu cầu tất cả những người có đỉnh cao mang số này phải biết quay về, tìm một cánh cổng tâm linh phù hợp mà tu tập.

Việc lên nghe pháp và làm công quả như vậy kéo dài được vài năm, cho đến khi một ngày của năm 1995, HT. Tuyên Hoá tuyên bố, “Ai có ý hướng xuất gia phải làm liền nha, Ta sắp ‘đóng cửa tiệm’ rồi đây”. Hiểu rằng ẩn ý của Hòa thượng là Ngài sắp nhập Niết bàn, người thanh niên 38 tuổi bỗng nghe mình được thôi thúc một cách dữ dội. Ông quyết định đăng ký xuất gia, đứng hẳn vào hàng ngũ tỳ kheo, là con của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và cũng trở thành một trong những đệ tử cuối cùng được đích thân HT. Tuyên Hoá đứng ra làm nghi thức cho thọ giới sa di, với pháp danh bắt đầu bằng chữ “Hằng”.

Cuộc đời xuất gia có nhiều thử thách và những cuộc lật mình, xoay chuyển tâm thức, thật giống như đỉnh cao mang tính chất số 7 nằm ở vị trí thứ ba. Để rồi vào khoảng năm 54 tuổi, tức tầm 2003, Thầy phát triển thành một vị giảng pháp sư (Dharma Master), tương ứng với đỉnh cao cuối cùng, mang tính chất con số 11 – con số chỉ sứ mệnh thiêng liêng: giúp làm thay đổi cuộc sống con người diện rộng, về mặt tâm linh!

Mình tin rằng, khi Thầy từng bước đi vào con đường tâm linh, rồi xuất gia, rồi chuyển sang làm giảng pháp sư, Thầy chưa từng biết đến Nhân số học, bởi vì như Thầy nói, Nhân số học chỉ ‘tiện tay’ đến với Thầy chỉ mới vài năm gần đây. Thế nhưng, như một sự dẫn dắt nhiệm màu của Vũ trụ, Thầy vẫn từng bước, từng bước một đi đúng lộ trình của một con người Số chủ đạo 9 với bốn đỉnh cao lần lượt 5-2-7-11. Thầy còn cho tụi mình một công cụ sâu mầu hơn, là bản đồ hình Giải tích Tarot Mandala, trong đó nhìn ra chiều sâu phát triển tâm linh của một con người, thì trong đó, đại đa số những con số trong Mandala của Thầy đều là những con số thuộc nhóm “tối ưu tiên cho những hoạt động tu tập”, thường thấy ở những người đã phát nguyện tu hành đời đời kiếp kiếp. Trong đồ hình I Ching Mandala, một công cụ thiện xảo mà tự tay Thầy phát triển, chúng mình còn nhìn thấy, quẻ mệnh của Thầy là Sơn Thiên Đại Súc, là một quẻ chỉ con người có bề dày sâu đậm về phát triển tâm thức, trong bụng là một bồ kiến thức, kinh văn, luật luận…; và nhiệm vụ của người này khi đến với cuộc đời này là phải tìm cách kết nối về lại với gốc gác tâm linh của mình – phần nội tâm không sinh không diệt, được bồi đắp và phát triển qua nhiều đời kiếp, để lảy ra những giá trị tri thức và hiểu biết sâu mầu mình từng có, mà tiếp tục giúp người cứu đời, theo đúng tinh thần Bồ tát đạo…

Tới đây thì mình phục Thầy sát đất luôn rồi. Cũng ngả mũ kính phục những phương tiện thiện xảo mà Thầy đã mang truyền trao cho chúng mình. Nó chẳng những đã lột tả vô cùng chi tiết nhiều ngóc ngách con người Thầy, mà khi áp dụng chúng soi chiếu bản thân chúng mình, chúng cũng giúp chúng mình mỗi ngày thêm vững vàng mà đi tới trên con đường đời đầy biến động. Rồi đâu phải chỉ riêng chúng mình, bạn thấy không, cũng nhờ nhìn được qua Nhân số học, mình đã nhìn ra được hoàn cảnh đặc biệt của Cha tụi mình, một người sinh 7/7/1938, rồi Dì Út mình, người sinh 14/7/1959… Cái sự ‘nhìn’ này không phải giống như kiểu ‘coi một quẻ cho vui’. Nó là những sự nhìn ngẫm nghiêm túc và thiêng liêng, nhìn nhận ‘căn cơ’ của một con người, giúp họ từ bế tắc hoang mang đau khổ, sang vững vàng, điềm tĩnh, an nhiên và tinh tấn. Bạn thấy, Nhân số học xứng đáng cho tụi mình nghiêng mình kính phục vô điều kiện chưa?

Nói về Dì Út Thiên Nga của mình, áp vào so sánh với ngày sinh của Thầy, tụi mình còn có một loại ‘kinh ngạc sững sờ’ thứ hai. Đó là, Dì Út sinh trước Thầy hai ngày (14 tháng 7 so với 16 tháng 7), bù lại, Dì sinh sau Thầy hai năm(1959 so với 1957), nên cộng tổng lại, cả Dì và Thầy đều là Con số chủ đạo 9. Chưa hết, do 14/7 và 16/7 đều cùng nằm trong cùng một cung quẻ mệnh trong I Ching Mandala là quẻ Đại Súc, nên suy ra, Dì Út mình cũng là một “kẻ căn cơ sâu mầu, tích lũy trong tâm thức sâu dày tri thức, kinh văn, đến đời này phải cần được khơi lại, đào sâu, giúp người giúp đời”. Và thực tế, Thầy tụi mình đã phát triển được đến dường đó, trong khi đó, Dì Út mình, do không đủ duyên được ‘đánh thức’ đúng lúc và đi theo đúng đường, đã bị đời quăng lên quật xuống bằng trần ai khổ sở hôn nhân gia đình và tật nạn sức khỏe. Bạn thấy chưa? Sự hiểu biết sớm và đầy đặn về Nhân số học, nó quá là cần thiết hay không?

Thầy tụi mình xuất hiện trong cuộc đời mình vào đúng năm cá nhân số 7 của mình, vào chu kỳ chín năm trước. Đồng hành và dạy dỗ chúng mình được đúng chín năm, có lẽ Vũ trụ cũng thấy mấy đứa nhỏ này đã phần nào lớn khôn, nên đầu năm nay, cũng vào năm cá nhân số 7 của mình, Vũ trụ rước Thầy về lại cõi lành ở Trên rồi. Thầy cũng chọn đi lặng lẽ, đám tang nhỏ và an tĩnh, ít người được biết đến. Có lẽ đó cũng là một phần tâm ý của Thầy, đến và đi như một áng mây thong dong. Nhưng những giá trị mà Thầy để lại cho đời, chắc là khó thể nào đong đếm xuể.

Lại nhớ về tinh thần Kinh Kim Cang, “Bồ tát nguyện cứu vớt hết chúng sinh trong ba cõi sáu đường ra khỏi khổ đau, hướng đến giải thoát Niết bàn, nhưng không thấy có chúng sanh nào được giải thoát.” Thầy đã sống và hành đúng theo tinh thần đó, ung dung tự tại, với trái tim vô cầu. Và, cũng như tinh thần Đức Phật đã khẳng định qua Kinh Kim Cang, bất cứ ai làm việc tốt với trái tim vô cầu, phước đức sẽ không thể nghĩ bàn. Chúng con tin chắc rằng, những phước đức mà Thầy để lại cho đời, qua những Phật tử hữu duyên được Thầy ban pháp nhũ, và những cộng đồng học viên được Thầy giáng tiếp truyền trao các phương tiện Nhân số học, các Mandala và I Ching để chuyển hoá, sửa mình và rốt ráo tu tập hướng đường Về Nhà, vẫn sẽ được tiếp tục lan tỏa mãi.

Hôm nay sinh nhật Thầy, 16/7. Chúng con thành kính tưởng niệm Thầy qua bài viết này, cũng tin rằng Giác linh Thầy ở nơi cao kia đang mỉm cười.

Kính thương Thầy lắm,

(16.7.2026 – Con QH & các học trò nhà MayQ)

Chia sẻ bài viết

Không có bình luận

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Start typing and press Enter to search

Shopping Cart